Tư vấn dịch vụ
1900 2292

Tư vấn vật phẩm
1900 2292

Văn Hóa Thờ Tổ Nghề Ở Việt Nam

Thờ tổ nghề là truyền thống tốt đẹp ở Việt Nam, với mong muốn nhờ sự phù hộ của tổ nghề giúp cho ngành nghề phát triển, người làm nghề có được cuộc sống sung túc, ấm no, hạnh phúc.
07.10.2020

 

Tổ nghề là ai?

Vua Hùng được xem là Đức tổ của các làng nghề (Ảnh minh họa)

Tổ nghề (hay Đức Thánh Tổ, Tổ sư) là một hoặc nhiều người có công lớn đối với việc sáng lập và truyền bá một nghề nào đó. Do đó được các thế hệ sau tôn trọng và suy tôn là người sáng lập vì đã có công tạo ra nghề, gọi là tổ nghề. Tổ nghề thường là những người có thật, nhưng lại được người đời sau tôn thờ vì đã có công sáng tạo ra nghề, truyền lại cho các thế hệ sau.

Việt Nam có khoảng 5.400 làng nghề, trong đó có khoảng 2000 làng nghề truyền thống. Đa số các làng nghề ở Việt Nam dân làng đều thờ tổ nghề, nhất là ở các làng nghề truyền thống, có lịch sử lâu đời. Tuy nhiên, có một số ít làng nghề do hoàn cảnh khách quan, lịch sử không ghi lại “tích của tổ nghề” nên dân làng không biết ai là tổ nghề để thờ cúng. Ở các làng nghề Việt Nam, dân làng có thể lập bàn thờ vị tổ nghề tại gia, nhưng phổ biến vẫn là lập miếu, đền, đình để thờ tổ nghề riêng của làng nghề mình. Đặc biệt, ở nhiều làng, có những vị tổ nghề còn được dân làng tôn làm Thành Hoàng làng, tức là vị thần linh cai quản làng, là thần hộ mệnh, phù hộ và che chở cũng như ban phúc cho dân làng. 

 

Văn hóa thờ cúng tổ nghề ở Việt Nam diễn ra như thế nào?

Các nghề đều có tổ nghề, có khi nhiều người là tổ cùng một nghề hoặc cùng một nghề nhưng mỗi nơi thờ một vị tổ khác nhau nhưng cũng có khi một người là vị tổ của nhiều nghề khác nhau. Chưa có số liệu thống kê có bao nhiêu vị tổ nghề nhưng ước tính ở Việt Nam có khoảng 130 vị tổ nghề. Hà Nội là nơi có nhiều làng nghề nhất cả nước. Ví dụ như làng nghề khảm trai Chuôn Ngọ có tổ của nghề này là ông Trương Công Thành, một vị tướng thời Lý; Bà tổ nghề dệt lụa ở làng Vạn Phúc có tên là A Lã Thị Nương, thế kỷ thứ 9; làng nghề nhiếp ảnh Lai Xá cụ Khánh Ký tổ nghề. Vị tổ nghề bách nghệ, tổ nghề đầu tiên chính là Vua Hùng, người có công dựng nước. Nhà nghiên cứu lịch sử, văn hóa Nguyễn Đức Tố Lưu, cho biết: “Chúng ta có 2 vị bách nghệ tổ sư, một nam và một nữ. Nam là Hiên viên Hoàng Đế tức vua Hùng, nữ là vợ Vua tức Hoàng hậu Tây Thiên Lăng Thị Tiêu. Về sau có thêm những vị tổ nghề khác như tổ nghề kim hoàn, đúc đồng, thủ công… Đình Kim Ngân ở Hà Nội là nơi thờ tổ bách nghệ vua Hùng, người có nhiều sáng chế thời cổ đại, dạy dân nhiều nghề như làm nhà, làm nông, viết chữ.”

Giỗ tổ nghề may (Ảnh minh họa)

Tục thờ tổ nghề là phong tục tập quán, nghi lễ linh thiêng của dân làng. Hàng năm, lễ cúng tổ nghề thường được tổ chức vào ngày sinh hoặc ngày mất của vị tổ nghề, nếu không biết được ngày sinh, ngày mất của vị tổ nghề, thì dân làng tổ chức vào ngày hội làng. Dân làng tin rằng thờ tổ nghề sẽ được tổ nghề phù hộ cho dân làng bảo tồn và phát triển nghề nghiệp của mình. Tục thờ tổ nghề cũng chính là đạo thờ tổ tiên, trở thành sợi dây liên kết, gắn bó mọi người lại với nhau, thể hiện đạo hiếu trong nhân sinh quan của người Việt Nam. Nhà giáo, nhà nghiên cứu văn hóa Vũ Ngọc Khôi, cho biết: “Đạo hiếu gắn với thờ cúng tổ nghề. Chuyện thờ các vị tổ nghề chứng tỏ là chúng ta thể hiện thái độ tri ân của những kẻ hậu sinh, nhớ công lao những người đi trước đã khai thông, mở lối cho mình. Nếu như chúng ta không có thái độ biết ơn, tri ân như thế chắc chắn sau này chúng ta không thể mở mày mở mặt ra được.”

 

Trong việc thờ cúng tổ tiên, hương (hay còn gọi là nhang) đóng một vai trò vô cùng quan trọng.

Nguồn gốc của Hương (Nhang)

Hương được sử dụng rất nhiều trong văn hóa thờ cúng của người Việt (Ảnh minh họa)

Trên bàn thờ tổ tiên mọi gia đình, cây nhang thắp đỏ càng thêm ấm cúng, vấn vương hương khói, là gạch nối giữa thần linh đất trời, giữa người đã khuất và trần tục.

Cây nhang có nguồn gốc từ Ả Rập, được các lái buôn Hy Lạp đưa sang bán tại các nước châu Á. Người dân châu Á mau chóng ưa thích cái hương thơm của nhang. Loại bột này lấy từ cây boswellia sacra mọc rất nhiều ở miền Nam bán đảo Ả Rập. Nhờ có đặc tính ấy nên nhang được đem dùng ở những nơi tôn nghiêm. Người Babylon có tục đốt nhang để làm an lòng các vị thần linh.

Nghề buôn nhang thịnh hành ở Ả Rập vào đầu Công nguyên. Sau đó, nghề làm nhang phát triển mạnh ở châu Á cùng với sự phát triển của đạo Phật, có thể nói chính đạo Phật đã được truyền bá rộng rãi cùng với hương thơm huyền ảo của cây nhang.

Ở Việt Nam, không khó để thấy thi thoảng xuất hiện ở trên đường các nam hoặc nữ phật tử, đã trọng tuổi đi bộ đem các loại nhang thơm đến mời mua. Đó là lòng thành, tâm phước. Tiền lời bán được từ cây nhang đem về Phật đường sử dụng vào mọi việc từ thiện.

Ở mỗi nước thì văn hóa thờ cúng cũng như thói quen sử dụng nhang trong thờ cúng của họ lại khác nhau. Người Trung Hoa đốt nhang không những để thờ cúng mà còn để biết thời khắc trong đêm gọi là “đồng hồ nhang”, nhưng chỉ đốt mỗi đêm một khoanh nhang duy nhất. Tại các đền chùa họ đốt nhang thành từng ôm, khói xông nghi ngút lan tỏa mù mịt. Người Nhật Bản đốt mỗi đêm 12 cây nhang, mỗi cây có một mùi hương khác nhau. Nhu cầu đốt nhang ngày càng lớn ở các quốc gia theo đạo Phật và công việc làm nhang hầu như do phụ nữ đảm trách. Người Malaysia dùng nhang ít hơn các nước khác trong vùng, nhưng có loại nhang cao đến 5 - 6m, đường kính to bằng cây cột nhà, dùng để đốt dâng cúng thần “tài lộc”. Cây nhang của người Ấn Độ có hình dáng cầu kỳ, mùi thơm nhẹ nhàng, thanh thoát, dễ tập trung tư tưởng khi cầu nguyện.

Cây nhang từ lâu đã ngự trị ở mọi nơi thờ phụng, từ chùa chiền, đình miếu cho đến mọi gia đình, bất kỳ sướng khổ, sang hèn. Đối với người Việt nói riêng và người Á Đông nói chung, thắp một nén nhang mang ý nghĩa thiêng liêng và là nếp văn hóa trong cuộc sống hàng ngày.

 

Cây nhang được làm như thế nào?

Nhang thường được làm bằng tre, bột nhang làm bằng bột vỏ cây bồ lời và bột cám cưa. Màu vàng được tạo bằng bột cây huỳnh đàn và mùi hương được tạo từ bột cây trầm gió nên thường được gọi là hương trầm.

Ở nước ta, có rất nhiều địa phương có nghề làm nhang. Ở TP. Hồ Chí Minh, sản xuất nhang chủ yếu tập trung tại khu Bà Hom và đường Hậu Giang (quận 6).  Ở miền Bắc, nghề làm nhang chính gốc phải kể đến vùng Dốc Lã, Hưng Yên vì đây là quê hương của bà tổ nghề nhang. Nguyên liệu nhang là tổng hợp của nhiều vị thuốc Bắc, thường từ 10 - 15 vị như: mộc hương, đại hoàng, địa liên, nhục đầu, bạch chỉ, trầm hương…

Tuy nhiên, giá trầm hương càng ngày càng quá cao nên nhiều người thường lấy nhựa quả trám làm giả mùi trầm hương. Chính vì vậy mà giá cả có phần chênh lệch. Người làm nhang có thể vì lợi nhuận mà bớt đi vài vị thuốc, nhưng hương thơm của nhang cũng không vì thế mà bị ảnh hưởng nhiều. Muốn phân biệt trầm thật hay giả chỉ có cách đốt cây nhang chứ mắt thường không sao phân biệt được. Trầm giả có mùi thơm hắc, trong khi trầm thật có mùi thơm nhẹ nhàng quyến rũ. Chính vì vậy mà người pha chế hương thơm phải có nhiều kinh nghiệm. Mùi hương cũng có nhiều loại, từ hương thơm ngát, nồng nàn đến hương thơm ngọt dịu … Thậm chí, người ta còn dùng mùi hương để chữa các bệnh sổ mũi, đau đầu… vì trong thành phần của nó có vị thuốc.

Sản phẩm nhang cũng có nhiều loại và được gọi bằng nhiều tên khác nhau, chẳng hạn như nhang vuốt, nhang vòng, nhang sào, nhang nén… Cây nhang thường được dùng trong các gia đình là loại nhang nhỏ, đường kính chừng bốn, năm ly và dài độ bốn, năm tấc.

Ngoài ra hiện nay trên thị trường còn xuất hiện loại nhang lớn. Cây nhang loại lớn do người Hoa sản xuất tại Chợ Lớn (TP. Hồ Chí Minh) có chiều dài từ 1 - 2 mét. Nhiều đình, chùa, nơi thờ tự thường dùng nhang khoanh có đường kính đến 1m, có thể cháy trong vòng 10 - 15 ngày mới tàn.

Cần nói thêm rằng, kỹ nghệ làm nhang ngày càng phát triển đã dẫn đến sự ra đời của cây nhang điện. Đó là cây nhang có bề ngoài trông cũng giống cây nhang thật, trên đỉnh có bóng đèn nhỏ gắn với dây dẫn điện nằm bên trong để cắm vào nguồn điện. Hễ bật công tắc thì bóng điện sáng từa tựa như cây nhang đang cháy (tất nhiên là không có mùi hương và cũng không tàn lụi). Sử dụng nhang điện không có ý nghĩa như cây nhang cổ truyền nên không ai dùng nhang điện vào việc cúng chạp, tế lễ và tất nhiên là không sử dụng trong ngày giỗ tổ nghề truyền thống.

Hương sạch Phong Thủy Vượng 

Hiểu được những trăn trở của quý khách hàng về độ an toàn của các sản phẩm nhang (hương) trên thị trường hiện nay, Phong thủy Tam Nguyên đã cho ra đời dòng sản phẩm Hương Sạch Phong Thủy Vượng. Được các chuyên gia đến từ Viện Nghiên cứu bảo tồn và phát triển văn hóa Phương Đông nghiên cứu, lựa chọn kỹ càng nguồn nguyên liệu thiên nhiên, sản phẩm mang đến mùi hương dễ chịu, tốt cho sức khỏe, tinh thần của bạn và những thành viên trong gia đình bạn. Với cam kết 100% sử dụng nguyên liệu sạch, chất lượng và đến từ thiên nhiên, không hóa chất, không cuốn tàn, chúng tôi chắc chắn bạn sẽ hoàn toàn hài lòng với chất lượng của sản phẩm Hương Sạch Phong Thủy Vượng.

Bạn hoàn toàn có thể tách một ít phần bột để so sánh với các loại nhang trên thị trường. Tăm nhang Phong Thủy Vượng có màu nâu đen, sần sùi thô mộc vì đó là nhang làm theo phương pháp truyền thống, không sử dụng hóa chất độc hại. Còn những loại nhang trên thị trường nếu tăm nhang có màu vàng sậm, láng mịn thì chắc chắn nhang được tẩm axit photphoric (H3PO4)

Đến với Phong thủy Tam Nguyên, bạn hoàn toàn có thể yên tâm về chất lượng của sản phẩm, giúp không gian tâm linh của nhà bạn thêm phần trang nghiêm, ấm cúng và giúp những ý niệm, cầu mong của bạn thêm phần linh nghiệm. Đặc biệt, nếu bạn đặt mua 5 hộp sản phẩm Hương sạch Phong Thủy Vượng, chúng tôi sẽ tặng bạn ngay 1 hộp hương và miễn phí vận chuyển đến tận tay các bạn.

Để lại comment với cú pháp: Họ tên + SĐT để nhận ngay ưu đãi hoặc click tại ĐÂY để lại thông tin để đội ngũ Trợ lý của Thầy Tam Nguyên liên hệ và giúp đỡ bạn nhé!



Tags: